Toàn bộ diễn đàn    Đóng góp ý kiến     Đăng nhập          online


ĐÓNG GÓP Ý KIẾN


Ý kiến của bác Lê Đỗ Bình
Đăng ngày 5/12/2009 bởi ledoninh

Thư ngày 30.11.2009 của bác Lê Đỗ Bình gủi ông Lê Đỗ Luyện:

Kinh Gui: Ong LD Luyen va cac anh chi em.

Toi nhan duoc Ban Gia pha Ho LE DO do Ong LD Tam chuyen (Ban goc do Cu Doi Huy bien soan va Co Nam bien soan, bo sung. Nay thay can gop phan bien soan Gia pha Ho LE DO, Nen manh dan soan lai theo mau Ban Gia pha cu. Khi soan co tham khao www do Ong Luyen va cac chau con Ong Ngan lap. Nay xin gui den Quy vi, xin quy vi bo sung, vi con co sai sot va thieu nhieu thong tin lam. Toi cung muon ghi them chu Han, nhu Ban goc, nhung chua cai dat duoc chu Han. Sau nay cai duoc chu Han , Toi se bo sung. Rat mong sơm co cac thong tin cua cac nganh, chi trong toan ho Le Do ta.

Kinh thu


Cụ tổ (Lê Thành) có phải chính là Đỗ Bí ?
Đăng ngày 16/12/2008 bởi ledoninh

Qua tham khảo các tài liệu lịch sử, chỉ có một người trong số các Bình Ngô Khai Quốc Công Thần mang họ Đỗ, đó là Đỗ Bí.

Không có tài liệu nào nói về hậu duệ của Đỗ Bí, phải chăng vì Bà Hai sống ở Thanh Hoá, còn Cụ ở Thăng Long ?

Các tài liệu:

I.
Một cuốn ngọc phả nhiều giá trị lịch sử
(-- Nguyễn Văn Thành --, http://www.suutap.com/default.asp?id=933&muc=3)

Cuốn "Đinh tộc ngọc phả" được ông Đinh Quốc Bảo tìm thấy ở Trung Quốc. Cuốn phả thuật lại khá tường tận cuộc đời, gia thế của danh tướng Đinh Liệt thời Lê Lợi. Không chỉ có vậy, cuốn gia phả còn cung cấp nhiều chi tiết lịch sử mới về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cùng triều đình nhà Lê.

Đinh Liệt tham gia tích cực các hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn từ khi nhen lửa ở đất Phật Hoàng năm 1415. Ông là người sống lâu nhất trong bốn người nhen lửa ở đất này (Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Thận, Đinh Liệt) lại là quan Cực Phẩm thời Lê Sơ nên ông biết rõ và tham gia các hoạt động của Triều Đình ở các Triều: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân và là người chủ chốt tôn lập Lê Thánh Tông. Đinh Liệt ngay từ nhỏ đã giỏi cơ mưu võ lược nên các trận đánh, các chủ trương lúc bấy giờ ông đều ghi lại cụ thể với cả ngày giờ chính xác và nhiều khi có kèm theo một bài thơ để nói lên tâm tư và nhận xét của mình. Tất cả sự việc Đinh Liệt trải qua, ông đều ghi lại trong "Bút Ký Hồng Mai". Hồng Mai là tên gọi vui mà thân phụ đặt cho ông. Ông còn có "Đinh Liệt Di Cảo". Tất cả tư liệu này cùng với lời kể của ông đã được con cả ông là Lê Triều Thủ Khoa Binh Bộ Thượng Thư Đinh Công Đột (Lê Công Nhiếp) ghi chép, soạn ra "Ngọc phả họ Đinh".

"Ngọc phả họ Đinh" còn được bổ sung bằng những tài liệu của quan Tham Nghị Triều Chính Đinh Vĩnh Thái là con cả Đinh Lễ.

"Ngọc phả họ Đinh" ghi sự việc từ khi Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt còn nhỏ, được thân phụ mời người bạn thân là cụ Trần Lãm một Thái học sinh đời Trần dạy Văn và được cụ Trần Quốc Đạt một vị tướng cũng thời Trần dạy võ. Sau đó là ngọn lửa bùng lên ở đất Phật Hoàng, ngọn lửa rực rỡ suốt 10 năm chống giặc Minh. Cuốn "Ngọc phả họ Đinh" ghi lại những chương hào hùng nhất trong cuộc đời chống ngoại xâm phương Bắc của Đinh Liệt. Tiếp đấy là những chương văn trị, võ công kiến thiết triều Hậu Lê với vai trò đặc biệt của ông.

Theo cụ Nguyễn Minh Hiệu (một nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa lão thành ở Thanh Hóa và là người rất quan tâm đến quyển phả này) đã để nhiều năm cùng ông Đinh Quốc Bảo nghiên cứu quyển phả thì vào khoảng thập kỷ 80 của Thế kỷ 18, họ Đinh ở Thanh Đàm (Thanh Trì) về Đông Cao lễ tổ đã mượn quyển ngọc phả này đem ra Thanh Đàm. Sau đó quyển phả bị mất.

Tháng 10 năm 1953, ông Đinh Quốc Bảo (1924 - 1996) một người con cháu họ Đinh Công Cao, tinh thông chữ Hán và Bạch Thoại, công tác ở Trung Quốc tình cờ tìm thấy "Đinh tộc ngọc phả" trong một thư viện. Ông Bảo đã nhờ anh sinh viên trường

đại học Tổng hợp Quách Hòa mượn hộ và ông vội vàng chép trong 3 ngày đêm. Từ đó, cho đến khi tạ thế (1996), ông Bảo không rời quyển phả. Ông đã nhờ nhiều nhà khoa học góp ý và đã dịch xong quyển phả, chép lại lần cuối cùng vào năm 1989.

Ông Bảo đã tặng một số bạn bè có công nghiên cứu quyển phả với ông và để lưu 2 quyển tại Đông Cao. Hiện nay chúng tôi có trong tay cả bản dịch lẫn bản chữ Hán mà ông Đinh Quốc Bảo mang từ Trung Quốc về. Ông Đinh Quốc Bảo đã chép quyển ngọc phả vào 5 quyển vở học sinh loại 56 trang khổ 23 x17cm kẻ ly bìa xanh mà ta thường gặp ngày trước và một số tờ rời, chữ ông Bảo chép nhỏ, chúng tôi đếm thử trang số 5, quyển số 1 được 584 chữ...

Về bản dịch của ông Đinh Quốc Bảo với bản chữ Hán có nhiều chỗ dịch thoát rất hiện đại, cốt để con cháu trong họ hiểu được. Chính vì rất quan tâm đến việc dịch quyển phả này nên nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hiệu đã có ý định dịch lại quyển phả để công bố và ông đã dịch thử 2 trang.

Quyển phả ghi lại tỉ mỉ ngày giờ, sự việc:
Ngày 12 tháng 3 năm ất Mùi (1415), Lê Lợi, Lê Lai, Đinh Liệt và Nguyễn Thận ngồi dưới gốc đa cổ thụ đất Phật Hoàng đầy nắng xuân bàn bạc sách lược Bình Ngô, sáp nhập hai lực lượng Mỹ Lâm của họ Đinh với lực lượng Lam Sơn, tôn Lê Lợi làm chủ.
Giờ Thìn ngày 10 tháng 2 năm Bính Thân, 8 người tụ tập dưới gốc đa cổ thụ ở Lũng Nhai ăn thề. Lê Lai là người chọn địa điểm này, Đinh Lễ và Lê Văn Linh là người soạn lời thề. Lê Lợi, Đinh Liệt là người duyệt lại. Các tráng sĩ đứng vào vị trí của mình. Chủ tướng Lê Lợi bước lên ba bước thắp hương, mở nút rượu đọc lời thề. Có 4 người bận việc ở xa, về không kịp là Đinh Bồ, Lưu Nhân Chú, Bùi Quốc Hưng và Nguyễn Nhữ Lâm. Sau hội thề Lũng Nhai, các nghĩa sĩ chia nhau đi các vùng nói rõ chí lớn Lam Sơn. Lúc đó nhiều hào kiệt theo về Lam Sơn trong đó có Đỗ Bí và Nguyễn Công Duẩn... Ngày 10 tháng Chạp năm Đinh Dậu (1417) Lê Lợi họp các tướng quyết định tế cờ, xưng Vương. Do giặc Minh sắp đánh Lam Sơn, buổi lễ phải thực hiện sớm hơn dự định mười mấy ngày.
Giờ Thìn ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất Lê Lợi làm lễ xưng Vương. Ngọc phả ghi rõ tên 18 Tướng văn, 51 Tướng võ trong đó có Nguyễn Công Duẩn tham gia buổi lễ. Ngọc phả ghi rõ số binh lính dự lễ có 1500 người chia làm 6 đoàn đứng trước lễ đài là bục đất đắp cao. Có 1300 dân quanh vùng và người nhà các tướng đứng xung quanh. Sau khi Lê Lợi tuyên hịch, ông từ trên bục đất trèo lên lưng con voi trắng có cắm lá cờ vàng. Các tướng văn lên lưng voi, các tướng võ lên lưng ngựa diễu hành trong tiếng trống, tiếng cồng, tiếng hô Bình Định Vương vạn tuế.
Ngày 12 tháng Chạp năm Canh Tý (1420) Nguyễn Chích đem 27 nghĩa sĩ Hoàng Nghiêu về Mường Nanh gia nhập nghĩa quân Lam Sơn.
Một số nghĩa sĩ Lam Sơn vào Nghệ An mộ được 177 tráng đinh đem về Lam Sơn. Nhóm nghĩa sĩ Bùi Quốc Hưng, Lê Vũ Bị, Nguyễn Công Duẩn ra Thiên Trường mộ được 1127 tráng đinh chia làm 2 đoàn, dẫn về Lam Sơn.
Nhóm Hà Đệ, Hà Mộng, Trần Trãi mộ ở vùng Đông Sơn, Nông Cống được 1.365 tráng đinh. Các con số có số lẻ nói lên tác giả rất rõ sự việc.
Trong phả có nói đến việc Nhập Nội Tư Mã, Tham Dự Triều Chính Đinh Vĩnh Thái (Con cả Đinh Lễ). Khi về Trí Sỹ tìm thấy ở nhà ông ngoại mình là Bùi Quốc Hưng bản danh sách các nghĩa sĩ Thủy Cối gồm hơn 40 vị trong đó có nhiều vị sau này là Bình Ngô Khai Quốc Công Thần như: Bùi Quốc Hưng, Lê Hiểm, Bùi Bị, Nguyễn Nhữ Soạn, Nguyễn Nhữ Lâm, Ngô Từ, Nguyễn Lý, Đỗ Bí và có cả Ngô Sĩ Liên.

"Ngọc phả họ Đinh" ghi ngày 18 tháng 8 năm Kỷ Hợi (1419) Lê Lợi họp các Tướng ở Chí Linh bàn cách thoát hiểm. Trong cuộc họp này nhiều Tướng đòi quyết chiến còn Lê Lai đã xin liều mình cứu Chúa để bảo vệ lực lượng. Phả ghi ngày 21 tháng 8 năm Kỷ Hợi, Lê Lai dẫn 500 nghĩa quân đánh mạnh vào đồn giặc, giết hơn ngàn tên và các nghĩa sĩ đã anh dũng hy sinh. Đinh Liệt đã làm bài thơ khóc Lê Lai hiện còn ghi trong ngọc phả. Ngày nay, giỗ Lê Lai vào ngày 21 tháng 8 và giỗ Lê Lợi vào ngày 22 tháng 8 là thật rõ ràng.
Phả cũng ghi mùa xuân năm Kỷ Mão (1423) Nguyễn Trãi lấy bí danh là Trần Văn, Trần Nguyên Hãn lấy bí danh là Trần Võ vào Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân Lam Sơn trong khi Bình Định Vương lại cho Phạm Văn Xảo đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Đô. Vì không biết rõ lai lịch hai vị này, Nguyễn Như Lãm đã giao cho Trần Văn làm Ký lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền. Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách", Lê Lợi mới biết rõ hai người này và giữ lại bên mình để lo giúp việc.

"Ngọc phả họ Đinh" cũng ghi được nhiều thơ của Đinh Liệt, các bài thơ, câu đối, trướng của người đương thời mừng Đinh Liệt khi ông có việc vui và phúng Đinh Liệt khi ông qua đời. Đáng chú ý nhất: Trong các sự kiện lịch sử thời Thái Tông, Nhân Tông, việc bà Thái hậu Nguyễn Thị Anh nắm hết quyền hành, Phả có ghi lại một số bài thơ có từ nói lái để kể những sự việc quan trọng lúc đó mà không thể nói trắng ra được dù là nói trong nhà.

Nguồn: Tri thức trẻ

II
ĐỖ BÍ (Thế kỉ XV)
(http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1810.msg26643#msg26643)

Ông quê ở thôn Cung Hoàng (nay thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những buỗi đầu.

Tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), quân Minh vây đánh, bộ chỉ huy bị vây hãm ở núi Chí Linh hơn 3 tháng trời, ông luôn đi sát để bảo vệ Lê Lợi.
Ông là một vị tướng có tài. Năm 1424, ông được cử tham gia chỉ huy trận Khả Lưu, chặn đứng cuộc hành quân của giặc, không cho chúng đánh chiếm lại Trà Lân- một vị trí hết sức quan trọng án ngữ mạch giao thông phía tây Nghệ An. Trận này ta thắng lớn, làm thay đổi hẳn tình hình theo chiều hướng có lợi cho Lam Sơn.
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định tiến quân ra Bắc,ông được cử cùng với các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Lý Triện chỉ huy đạo quân thứ nhất gồm 3000 quân và một thớt voi, có nhiệm vụ uy hiếp mặt Nam thành Đông Quan. Khi vừa tiến ra phía Nam thành Đông Quan, đạo quân này đã lập được ba chiến công vang dội: thắng trận Ninh Kiều (9-1426), trận Nhân Mục (9-1426), trận Xa Lộc (10-1426). Ông đã vinh dự được chỉ huy trực tiếphai trận Ninh Kiều và Nhân Mục.

Tháng 11 năm 1426, nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang cứu nguy, đóng ở Đông Quan hòng làm thay đổi tương quan lực lượng. Mặc dù vậy, ông và các tướng chỉ huy cũng hạ quyết tâm chủ động đánh giặc, trận phục kích Tốt Động - Chúc Động thắng lợi đã thể hiện điều đó, buộc Vương Thông phải rút về cố thủ trong thành Đông Quan. Từ đây nghĩa quân vây chặt Đông Quan. Ngày 7 tháng 2 năm Đinh Mùi (tức ngày 4-3-1427), Vương Thông bất ngờ tấn công vào khu vực đóng quân của ông và Lý Triện ở Qủa Động. Trận này, Lý Triện đã anh dũng hy sinh, còn ông thì bị bắt, mãi đến khi Vương Thông đầu hàng mới được trao trả.

Năm 1428, sau thắng lợi hoàn toàn, lúc luận công ban thưởng, ông được ban quốc tính, tước Huyện hầu (là 1 trong số 14 người được ban tước này).

Trong suốt 20 năm làm quan trong triều, ông vẫn luôn liêm khiết và được tín nhiệm. Năm 1448, lúc vua Lê Nhân Tông cùng đông đả bá quan văn võ về bái yết Lam Kinh, ông và Nguyễn Thận vinh dự được ở lại coi giữ kinh thành Thăng Long. Sau ông mất vào năm nào, không thấy sử chép.

III
Tiểu sử Nguyễn Xí
(http://www.nhomai.vn/forum/showthread.php?t=1308)

Đại phá Vương Thông ở Tốt Động

Năm 1418, Lê Lợi xưng Bình Định vương phát động khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí cùng tham gia, lúc đó ông 22 tuổi. Ông thường theo hầu hạ bên Lê Lợi những lúc hiểm nghèo ở núi Chí Linh.

Tháng 8 năm 1426, sau khi làm chủ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan (Thăng Long, Hà Nội).
Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Vua Minh lại sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.

...

Năm 1442, vua Lê Thái Tông mất, ông cùng Trịnh Khả, Lê Thụ nhận di chiếu phò vua Lê Nhân Tông.
Năm 1445, vua Nhân Tông còn nhỏ, Nguyễn Thái hậu nhiếp chính, ông làm Nhập nội đô đốc, nhận lệnh cùng Lê Thận mang quân đi đánh Chiêm Thành, nhưng chưa đi thì bị quyền thần tố cáo tội lỗi nên bị bãi chức. Năm 1448, Nguyễn Xí được phục hồi chức thiếu bảo.
Tháng 10 năm 1459, anh Nhân Tông là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân giết vua lên ngôi, đặt niên hiệu Thiên Hưng. Các đại thần Đỗ Bí, Lê Thụ, Lê Ngang mưu lật đổ vua Thiên Hưng bị bại lộ đều bị giết.

Nguyễn Xí bàn mưu với Lê Lăng (con Lê Triện), Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) lật đổ Nghi Dân lần nữa.

IV.
Đình làng Tốt Động
(http://www.vietgle.vn/beta/default.aspx?t=1&pid=10965&key=T%E1%BB%91t+%C4%90%E1%BB%99ng&type=A0)

Đình làng Tốt Động, tổng Mỹ Lương, huyện Chương Đức, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, ở phía Đông sông Bùi. Cuối năm 1426, quân Minh do Vương Thông cầm đầu chia làm 3 đường tiến vào nước ta. Các tướng quân của Lê Lợi, chia quân phục sẵn ở Tốt Động và Chúc Động, phá tan quân giặc. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Tốt Động, thây phơi đầy nội, thối đã nghìn thu”, chính là chỉ địa danh này.
Đình làng Tốt Động, được xây dựng năm 1493, sửa chữa lớn năm 1930. Đình thờ Đỗ Bí và Lê Ngân. Hai ông đều là các tướng của Lê Lợi có công trong chiến thắng Tốt Động.


Tham khảo thông tin từ website tỉnh Thanh hoá
Đăng ngày 23/1/2008 bởi ledoninh

Thông tin về cụ Lê Thành bị đặt nhầm vào chỗ làng Đại Khối (xem tại http://thanhhoacity.gov.vn/...&id=910&modul_id=33):

- Tổng giám Thượng Tướng Quân Tôn Thần (Thành Hoàng làng).

Sự tích: Thần họ Đỗ, huý Thành, theo Lê Lợi khởi nghĩa, được ban quốc tính Trải nhiều trận đánh lập nhiều chiến công. Ngài mất năm Bính Ngọ (1426) được phong tặng “Suy Trung Đồng Đức, hiệp mưu, bảo chính công thần Thiêm Lộ Hầu”, lại thêm chức Thái uý.

Đời Hồng Đức, thần được truy phong “Bình Ngô khai quốc công thần, gia tặng Trang quốc công”. Qua các triều đại đều có sắc phong.

Còn Bà Cả:

- Trinh Liệt Quận Phu Nhân Tôn Thần:

Sự tích: Thần họ Nguyễn, huý là Cả. Thần người Hương Lam Sơn, phường Bảo Lộc. Thần cùng chồng theo Lê Lợi trải nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Thần hi sinh cùng chồng trong một trận đánh, nhà vua nghe tin bà tuẫn tiết, rất thương tiếc và phong bà là Quận Phu Nhân, thuỵ là Trinh tiết. Qua các triều đại đều sắc phong.

Và Bà Hai:

- Từ thiện Quận Phu Nhân Tôn Thần:

Sự tích: Thần họ Nguyễn, huý là Phái, người ấp Định Hương (nay là Định Hoà). Thần là vợ thứ của Trang Quốc Công Lê Thành. Thần sinh được bốn người con trai, thay chồng nuôi con khôn lớn. Sau, bốn người con đều theo Lê Lợi đánh giặc cứu nước. Các con đều làm nên sự nghiệp.

Khi thần mất, nhà vua phong thuỵ Từ Thiện Quận Phu Nhân, lại sai sứ giả mang tiền công giao cho dân chọn đất tốt an táng và lập đền thờ. Qua các triều đại đều có sắc phong.


Một ý kiến cần trao đổi thêm
Đăng ngày 24/2/2006 bởi ledoninh

Trong e-mail gửi ngày 25-12-2005, Ông Lê Đỗ Luyện có viết:

"Dear Khang,

Chau nen luu mot so hinh anh ky niem de mai mot mo them trang " photogallery " cho website Ho LeDo. ( co hinh 2 Bac ky truoc da gui nham ).

Neu co dip sua chua, nen doi lai Huyen Tho Xuan thay vi Huyen Thieu Hoa.

Cam on,

LeDoLuyen"

Hình như Ông suy từ chỗ Lê Lợi quê ở Thọ Xuân hay từ chỗ "xã Lam Sơn" lúc đó thuộc huyện Thọ Xuân mà không thuộc Thiệu hoá ? Vấn đề địa danh hồi thế kỷ 15 là vấn đề khó quá. Hiện tại chúng cháu chưa dám sửa theo ý này, vì tài liệu gốc nói rằng ở Thiệu Hoá. Xin Ông chỉ bảo thêm.

Kính.


Quy ước đăng bài
Đăng ngày 2/1/2006 bởi ledoninh

Diễn đàn này là nơi con cháu dòng họ Lê Đỗ trao đổi ý kiến, nhằm giúp đỡ lẫn nhau làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Những nội dung không phù hợp với tiêu chí này thì không nên đăng lên đây. Kính mong các Ông, Bà, Bác, Chú, Cô, Anh, Chị, Em, Con, Cháu và quý khách nhiệt tình hưởng ứng.


Copyright (C) 2005 by giaphaholedo.
Tel : 0903 634 919, email : admin@ledoninh.com